1. Kiến thức cần tìm hiểu
Front-end va Back-end
Front-end chạy bên trình duyệt người dùng
- Ví dụ: html, css, javascript, cookie, local storage,...
- Cách xem, nhấn F12 vào application trên trình duyệt
Back-end chạy bên phía server
- Ví dụ: php, node.js,...
- Cách thông tin bảo mật phải để bên sever, và không để lộ khi truyền qua front-end
Phân biệt cách chạy giữa php và node.js
Session và cookie
Session được lưu trữ bên phía server và duy trì trong toàn phiên làm việc. Để khởi tạo được Session, trong php dùng lệnh session_start(); tìm hiểu thêm các lênh gán, lấy và xóa session
Cookie lưu bên front-end và có thể set thời gian tồn tại, dù trình duyệt đã mất
Địa chỉ tương đối
Đường dẫn URL
- Chứng chỉ SSL
- IP
- Port
- path
- Query
2. Hay dùng
Các lệnh CMD
| Syntax | Mô tả |
|---|---|
pushd \\192.168.0.1\web\solar |
map ổ đĩa ảo |
Các lệnh SSH
| Syntax | Mô tả |
|---|---|
ssh admin_username@192.168.3.124 |
Đăng nhập SSH |
cd /volume1/web/solar |
Trỏ đến thư mục cần làm việc |
Node là gì?
Javascript thường được viết trong các file html để xử lý các kịch bản, các tương tác với người dùng → cho nên javascript chỉ chạy phía frontend. Node.js sinh ra để giúp java có thể chạy ở phía backend
| Syntax | Mô tả |
|---|---|
node -v |
Xem version |
node js/server.js |
Chạy một file js bên sever |
taskkill /F /IM node.exe |
Ngừng chạy |
NPM là gì?
Khi cài Node thường npm sẽ được cài theo
| Syntax | Mô tả |
|---|---|
npm -v |
Xem version |
npm init |
Cài đặt ban đầu |
npm install express cors @tuya/tuya-connector-nodejs |
Cài đặt 1 lượt 3 thư viện |
npm uninstall express cors @tuya/tuya-connector-nodejs |
Gỡ cài đặt |
Nugget là gì?
Lỗi Powershell không chạy được là do windows chặn
Mặc định windows chặn không cho powershell chạy lệnh node hoặc npm nên phải tìm các mở chúng ra
HTTP Request (Mô hình Request - Response truyền thống)
GET, POST, PUT, DELETE Đây là cách phổ biến nhất, hoạt động theo cơ chế Front-end hỏi, Back-end trả lời. Front-end phải chủ động gửi yêu cầu thì Back-end mới phản hồi.
Ý nghĩa bản chất của GET và POST
-
GET (Mang ý nghĩa đi LẤY / XEM dữ liệu):
- Giống như bạn đi thư viện đọc sách: Bạn chỉ đến xem nội dung cuốn sách chứ không làm thay đổi gì trong thư viện cả.
- Trong lập trình, phương thức GET được thiết kế để không làm thay đổi trạng thái dữ liệu trên server. Bạn gọi GET bao nhiêu lần thì dữ liệu vẫn nguyên bấy nhiêu, không bị biến động.
-
POST (Mang ý nghĩa GỬI / TẠO / THAY ĐỔI dữ liệu):
- Giống như bạn gửi một bức thư đặt hàng hoặc bấm nút công tắc thay đổi trạng thái thực tế: Nó sẽ làm thay đổi hệ thống (đèn từ tắt thành bật, tài khoản bị trừ tiền...).
- Khi bạn ra lệnh điều khiển thiết bị Tuya (bật đèn, đổi màu, tăng giảm nhiệt độ), bạn đang làm thay đổi trạng thái thực tế của thiết bị, do đó bắt buộc phải dùng POST.
Về mặt kỹ thuật và bảo mật
- Với GET, các tham số đều hiện lồ lộ trên đường dẫn URL (ví dụ: /api/turn-on?device=123). Nếu dùng cách này để điều khiển, đường link sẽ rất dài và dễ bị lưu lại trong lịch sử trình duyệt.
- Trình duyệt web đôi khi có tính năng tự động gọi lại các trang GET (khi bạn bấm nút back/refresh). Nếu lệnh bật đèn mà dùng GET, mỗi khi người dùng bấm refresh trang web, đèn có thể sẽ bị bật/tắt liên tục ngoài ý muốn. Dùng POST sẽ triệt tiêu hoàn toàn rủi ro này.
Phần mềm
Visual studio code
Phím tắt https://code.visualstudio.com/shortcuts/keyboard-shortcuts-windows.pdf